Điềm Đạm - Cái Dũng Của Thánh Nhân

Điềm đạm là cái tư-đức đầu tiên mà cũng là cứu cánh của tất cả các tư-đức khác, tức là cái tư-đức căn bản đưa con người lên đến bậc CHÍ-NHÂN. Khi ta chưa sáng ra điều này mà dốc tâm luyện đức thì chẳng khác nào người mù đi trong đêm tối; khi ta chưa ngộ ra điều này mà phán xét người khác thì chẳng khác nào thầy bói xem voi.

Gia Nam Gia Nam
Khi thấy tôi lấy hai chữ Đức-dục làm một chủ đề lớn trong quyển nhật ký này, nhiều người đã hỏi:

- Gia Nam à, Đức-dục là gì?
 
- Xin thưa, “Đức-Hạnh của con người, dẫu có nhiều thứ bực nào, cũng không ngoài hai loại: tư-đứccông-hạnh. Tư-đức là những đức tánh ăn chịu về nhân cách riêng của từng cá nhân như: nhẫn nại, can đảm, quả quyết, điềm đạm. Công-hạnh là những hạnh tốt của cá nhân đối với người chung quanh, như đối với cha mẹ, anh em, bà con, vợ chồng, bè bạn và hơn nữa, với chủng tộc và nhân loại…”. Vậy Đức-dục nghĩa là nuôi dưỡng những đức tánh thuộc về tư-đức của con người. Phép tu thân nên bắt đầu từ đấy.
 
- Trong những đức tánh ấy, cái nào là quan trọng nhất?
 
- Xin thưa, Điềm-đạm.
 
- Vì sao là điềm đạm mà không phải là can đảm, quả quyết?
 
- Xin thưa, kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy, vươn mình xốc đánh. Thực là can đảm, quả quyết, nhưng cái đó chưa đủ gọi là dũng. Kẻ đại dũng trong thiện hạ, trái lại, thình lình gặp những việc phi thường cũng không kinh, vô cố bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão của họ rất lớn và chỗ lập khí của họ rất xa, tạo nên một đức tánh, gọi là Điềm-đạm. Xin hãy nghe câu chuyện thần thoại này:
 
* * *
 
Tích xưa, - theo thần thoại Phù tang - các vị thần ở trên cõi trời, có một khi cùng tranh nhau quyền bá chủ cả thế gian. Bất kỳ là vị nào, cũng đều cho mình là quyền lực trên hết tất cả Trời Đất. Các vị thần mới nhất định bầu cử một người làm trọng tài trong cuộc thi chọi, coi ai được làm bá chủ. Vị trọng tài nầy, có trí phán đoán và tính ngay thẳng đặc biệt, cũng là người cao tuổi hơn hết.
 
Trong các vị thần, một vị bước ra nói:
 
- Các ngài hãy xem đây, sẽ thấy rõ sức mạnh phi thường của tôi như thế nào.
 
Tức thời, một ánh sáng chớp lạnh xương, liền theo đó, tiếng sấm nổ vang, làm rung động cả không trung, dường như cả thế gian đều rung rinh sắp đổ… Các vị thần đều tái mặt. Lúc bấy giờ, không một ai còn dám nghĩ mình là người bất khả xâm phạm nữa.
 
Vị thần Bão tố, bước ra nói:  
 
- Sức mạnh của tôi, còn ghê gớm hơn nữa kìa. Hãy xem dưới kia, cánh đồng mênh mông lặng lẽ…
 
Nói vừa dứt lời, bỗng mặt nước biển dâng lên… Ban đầu từ từ... kế đó sóng nổi gió tung… Nước càng dâng, gió càng lớn, sóng càng to… cuồn cuộn ầm ầm… chỉ thấy còn có một vùng nước mênh mông trắng giã… Những ngọn núi cao, sóng đánh lấn riết, không còn thấy mặt… Sóng càng phút càng cao, gió càng phút càng lớn… hăm he chìm ngập đến cõi trời. Các vị thần thất sắc, cầu khẩn xin tha… Thần Bão tố vẫy tay một cái: sóng lặn, gió êm… bấy giờ nước biển lao xao, sóng chạy lăn tăn trên bãi cát.
 
Các vị thần vừa tỉnh trí hoàn hồn, thì nghe có một giọng lảnh lót cất lên:
 
“Sức mạnh không phải ở nơi sự phô trương của sức bạo tàn, vì nó chỉ có phá hoại mà không tạo lập. Sức mạnh ở cái thuật khuất phục ấy bằng ý muốn của họ. Người ta cảm vì sự dịu dàng mà chịu khuất phục chớ không phải vì bị khủng khiếp mà chịu khuất phục”.
 
Dứt lời, vị thần Âm nhạc lấy ống tiêu… thổi lên một hơi, nhẹ nhàng, êm ái như thế nào mà hết thảy các vị thần mê mẩn tâm thần, như ngây dại… Tất cả đều như bị sức âm nhạc lôi cuốn vào giấc ngủ thôi miên.
 
Nhưng có một vị thần… thái độ huyền bí, dường như thản-nhiên bất-động…
 
Vị này không thấy sấm sét mà choá mắt.
 
Sóng bủa, nước dưng cũng không khiến gương mặt trầm tĩnh của ông thay đổi.
 
Mà tiếng nhạc du dương, thâm trầm huyền ảo kia cũng không cảm động lòng ông chút nào cả.
 
Vị trọng tài quay qua hỏi:
 
- Ngài có phải mù, điếc gì không?
 
- Không. Tôi thấy và tôi nghe.
 
- Tại sao Ngài không động lòng. Sấm nổ, nước dưng không làm cho quả tim Ngài chao động lên sao? Nhạc thần, tiêu thánh không làm cho tâm hồn Ngài xao xuyến sao?
 
- Ngài lầm! Quả tim tôi cũng đập, tâm hồn tôi cũng xao.
 
- Nhưng sao gương mặt Ngài, tôi không thấy lộ vẻ lo sợ hay vui sướng gì cả?
 
- Không. Tôi là “Điềm Đạm”. Tôi là kẻ biết huấn luyện cảm giác tôi, tôi là kẻ đã làm chủ cảm giác tôi rồi. Còn các Ngài, các Ngài chỉ là những người còn làm tôi mọi nó vì chính các Ngài đã không thể chế trị nó.
 
“Có ích gì lo đi chế-trị sự vật quanh mình, trong lúc mà, một tiếng nhạc tiêu tao cũng đủ làm cho cái tay cầm sấm sét kia phải rụng rời như rũ liệt…
 
“Còn nói đến uy lực nỗi gì, kẻ có tài ảo hoặc người kia, khi thấy nước dưng, nghe sấm nổ, cũng vẫn lao nhao lo sợ như ai…”
 
Các vị thần, cúi mặt làm thinh. Vị trọng tài nói tiếp:
 
- Quyền bá chủ là người nầy. Sức mạnh thật, nơi tâm hồn điềm tĩnh của người nầy!
 
Hơn cả sự điều khiển sự vật, người nầy đã khéo léo biết điều khiển tình dục của mình.
 
Bất kỳ là một thế lực nào, nếu còn một thế lực khác đánh ngã, không còn gọi đặng là sức mạnh nữa. Người này không phô trương những thế lực vô ích như thế, rõ là người có sức mạnh trên hết. Bất kỳ là những ám thị, những dẫn dụ nào, cũng không làm nao núng tâm hồn người nầy đặng. Trái lại, người nầy đã thấy hết, và đã khéo lợi dụng cả thảy để làm tôi mọi cho mình. Nếu các anh em tin cậy nơi sự phê phán của tôi, thì tôi xin nói thật: “Vị thần điềm-đạm nầy là chúa tể chúng ta cả thảy.”
 
* * *
 
Từ ấy đến nay, câu phê phán ấy vẫn không sai giá.
 
Phải, sự Điềm Đạm là chúa tể của chúng ta cả thảy. Đạo hạnh con người đi đến đó, là đã tới chỗ cùng cực của nhân cách con người rồi.
 
* * *
 
Bất kỳ là tôn giáo hay luân lý nào, nếu bàn đến chỗ cùng cực của nhân cách, đều lấy tính ĐIỀM ĐẠM làm căn bản.
 
Phật, bàn về “tâm vô quái ngại” ; Lão, nói về “vô vi điềm tĩnh” ; Nho, luận đến “hạo nhiên chi khí”, - toàn chỉ vào một đức tánh đã nói trên: ĐIỀM ĐẠM.
 
ĐIỀM ĐẠM là gì?
 
Điềm-đạm tức là cái tính “như như bất động”, thản nhiên bình tĩnh, “không để cho ngoại vật động đến tâm mình”. Người điềm đạm, tức là người đã làm chủ cả Tình dục và Ý chí của mình. Nói một cách khác, người điềm đạm, tức người “tự động” không “bị động” vì những vật không tùng mình nữa.
 
“… Khổng Tử bị vây ở đất Khuông, không còn phương thế nào thoát ra được, bèn lấy đờn, đờn và ca. Tử Lộ hỏi: “Phu Tử làm sao vui được thế?...” Khổng Tử nói: “Ngươi lại đây ta nói cho mà nghe… Ta đã làm hết sức ta, để tránh cái chuyện nầy, thế mà không được, đó không phải còn tại ta nữa, mà là tại Trời. Xưa Nghiêu, Thuấn không bị cự cùng như ta ngày nay đâu, chẳng phải do nơi cái tài thận trọng của các ông ấy hơn ta mà được, mà là tại cái Mạng của họ không như của ta. Kiệt, Trụ, không phải tại họ tài ba ít hơn Nghiêu, Thuấn mà họ bị hại chỉ vì cái Mạng của họ không giống như hai người kia. Lặn xuống đáy biển, mà không biết sợ giao long, đó là cái Dũng của bọn chài lưới. Vào rừng mà không biết sợ hổ báo, đó là cái Dũng của bọn thợ săn. Thấy gươm bén mà không biết sợ, xem tử như sanh, ấy là cái Dũng của người liệt sĩ. Biết được chỗ cùng thông là Thời, Mạng và bất cứ là ở vào cảnh nguy hiểm nào cũng không biết sợ, đó là cái DŨNG của Thánh nhân…”
 
Cái Dũng của Thánh nhân, tức là chỗ cùng cực của Điềm Đạm.
 
* * *
 
Những lời trên được tôi tóm tắt từ phần đầu quyển CÁI DŨNG CỦA THÁNH NHÂN, tác giả Nguyễn Duy Cần, Khai Trí xuất bản năm 1964. Đây là một quyển sách hiếm hoi bàn về cách điêu luyện phẩm cách thanh cao nhất của con người theo lý tưởng của Á-Đông, nhưng lại bằng phương pháp thực tiễn của Tây-phương. Tác giả viết quyển này vào năm 1942 với hoàn bão “Thế giới đang cần những cá nhân siêu đẳng, những cá nhân có nhân cách hoàn toàn, những cá nhân không để cho hoàn cảnh un đúc, không để cho thời lưu lôi cuốn, những cá nhân có can đảm suy nghĩ phán đoán lấy mình, những cá nhân đứng giữa cơn dông tố bão bùng, vang rền những tiếng la thét của quần đoàn, của một đoàn trừu mất đường lạc lối, mà vẫn không bấn loạn, vững vàng giữ đặng sự tỉnh mỉnh phi thường của tâm trí… Những linh hồn tự do, những tâm tánh cương quyết, nhân loại hiện thời đang thiếu thốn, đang đợi chờ…”.
 
Nếu bạn muốn trở thành một cá nhân như thế, xin hãy lấy nó làm quyển sách gối đầu giường cho mình.
 
LỜI BÀN
 
Thú thực, lần đầu đọc quyển sách này, tôi vẫn còn hơi ngờ vực về thông điệp của tác giả (cách đây gần 80 năm), vì trong thời đại mà truyền thông và mạng xã hội đang thống trị, nếu bạn điềm tĩnh nghĩa là bạn im lặng, bạn im lặng nghĩa là bạn đang vô hình trong thế giới phẳng. Vậy điêu luyện sự điềm tĩnh liệu có còn phù hợp trong thời đại ngày nay?
 
Nhưng Nguyễn Duy Cần cũng đã chỉ ra quan niệm này là sự gặp nhau của rất nhiều đạo giáo đã tồn tại hàng ngàn năm nay, và đã trải qua rất nhiều thời đại khác nhau, nên hẳn nó phải là một quy luật bất biến với thời đại, văn hóa và sắc tộc.
 
Phải chăng, tôi ngờ vực nó là do cái trí non nớt của tôi đã lầm rằng, tĩnh lặng là thiếu sinh khí, cúi đầu là bạc nhược, trong khi “lúa chính cúi đầu, sông sâu tĩnh lặng”.
 
Ôn như Nguyễn Văn Ngọc có chép lại một truyện rất thâm thúy của Trang Tử trong quyển Cổ Học Tinh Hoa như vầy:
 
* * *
 
Vua Tuyên Vương sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà chọi. Được mười hôm, vua hỏi:
 
Gà đã đem chọi được chưa?
 
Kỷ Sảnh thưa: Chưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.
 
Cách mười hôm, vua hỏi: Gà đã đem chọi được chưa?
 
Kỷ Sảnh thưa: Chưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.
 
Cách mười hôm, vua hỏi: Gà đã đem chọi được chưa?
 
Kỷ Sảnh thưa: Chưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác đã muốn chọi rồi.
 
Mười hôm sau, vua lại hỏi: Gà đã đem chọi được chưa?
 
Kỷ Sảnh thưa: Được rồi, gà bây giờ cho nghe thấy tiếng gà khác cũng không cho vào đâu. Trông thì tựa như gà gỗ, mà thực thì đủ các ngón hay. Gà khác coi cũng đủ sợ, phải lùi chạy.
 
* * *
 
Cả gà và người nuôi thực là điềm đạm!
 
Nhưng thật không may là chúng ta chỉ nhận ra được chân giá trị của một người điềm đạm khi chúng ta cũng đã trở nên điềm đạm. Vì ta không thể biết giá trị của những thứ mà ta không có. Khi ta vẫn ưa cách sống nông nổi của tuổi dậy thì, ta sẽ xem những người điềm tĩnh là những kẻ nhu nhược. Khi ta vẫn chuộng những bộ cánh sặc sỡ đầy kim tuyến, ta sẽ xem sự giản dị là quê mùa thô kệch. Khi ta đang lắc lư tung tóe cùng những bản nhạc thị trường, ta sẽ xem những bản nhạc vàng là tẻ nhạt.
 
Có thể do tôi ít đọc và kém tuổi đời, nhưng tôi chỉ thấy người ta từ nông nổi trở nên điềm đạm, từ lòe loẹt trở về tinh tế, từ ồn ào trở thành trầm lắng, chứ tôi chưa thấy điều ngược lại bao giờ.
 
Hồi mới lớn, tôi thường bị ấn tượng bởi những người hoạt náo, hay khoa trương và thích thể hiện. Có khi tôi còn cho những người im lặng là những kẻ bạc nhược, an phận và lầm lũi. Nay nghĩ lại thấy hổ thẹn vô cùng vì không phải họ sống an phận, mà họ biết tiết chế thị dục của bản thân. Nguyễn Duy Cần có đoạn bàn về sự tiết dục trong quyển Để thành nhà văn như sau: “khi nói đến sự tiết chế, đó là mặc nhiên nhìn nhận có sự bồng bột mãnh liệt của thị dục, và chính có tiết chế được nó, mới tỏ ra được sức mạnh của tâm hồn. Trái lại, để cho dục vọng buông lung lôi cuốn là biểu hiện sự hèn kém của tâm hồn, không thể gây được những ấn tượng tốt đẹp của cái chân, thiện, mỹ nơi lòng ai được. Đừng hiểu lầm rằng cổ điển là thiếu nhiệt tình nhiệt dục”.
 
Và ta cũng phải nhận rằng, những người điềm đạm luôn có một sức hút lạ kỳ. Trong một đám đông những anh chàng đang khoa môi múa mép thì một cô gái đã lớn khôn luôn bị chú ý bởi những người điềm tĩnh, mà họ thường gọi là bí hiểm. Sức hút này không phải là sức hút của lực, mà là sức hút của hư không.

Khi xem phim Tam Quốc Diễn Nghĩa, sự hùng hổ của Trương Phi hay tài võ thuật của Lã Bố không đập mạnh vào óc tôi bằng sự điềm tĩnh của Quan Công vẫn thản nhiên chơi cờ trong khi Hoa Đà cạo xương lấy độc ở cánh tay. 
 
Đừng lầm lẫn sự điềm tĩnh và im lặng. Người điềm đạm có thể nói rất nhiều nhưng đó không phải là những lời vụt chạc đầu môi, mà là biểu hiện của một suy nghĩ chín chắn. Còn im lặng có thể là do không biết gì để nói, hoặc biết nhưng không thèm nói. Có người suốt đời nói mãi, mà vẫn như chưa từng có nói. Có kẻ suốt đời rất ít nói, nhưng mà nói rất nhiều. Đức Phật đi thuyết giảng suốt mấy chục năm trời nhưng cuối cùng ngài cho rằng, “suốt cuộc đời ta chưa hề nói gì cả”. Còn lắm kẻ, một ngày không nói một lời, mà hễ nói ra toàn là những lời vô ý nghĩa, hoặc đi gieo sự ngờ vực, sự tan rã, sự cừu thù giữa con người... Họ chính là kẻ nói rất nhiều.

Cũng đừng sa vào thái quá. Nhiều kẻ tâm trí sâu hiểm, họ thấy hại cho kẻ khác, cũng vẫn làm thinh. Cái đó, không phải là điềm đạm, mà họ đang tiêu tan khí lực bằng sự dày vò của ghen ghét, giữa ác tâm... Ở ngoài, thấy hòa hoãn nhưng nơi trong là một sức phá hoại ghê gớm mà ta không ngờ. Cái không nói của người điềm đạm không có ẩn một ác ý gì cả.
 
Có một điều thú vị mà nếu bạn để ý sẽ nhận thấy rằng, nếu một người đã trở nên điềm đạm thì những thứ mà họ thích và những thứ họ tạo ra cũng rất điềm đạm. Đặc điểm chung của những thứ điềm đạm là nó rất “thanh”, rất sâu lắng, không ồn ào, ít lòe loẹt và giữ được giá trị với thời gian. Hãy so sánh những bài hát thị trường với những bản nhạc bất hủ, và nhớ về cuộc sống giản dị của những người tạo ra nó. Hội họa, văn chương, ca kịch cũng vậy. Nên bạn chỉ cần đọc bài văn của một người, xem những bức họa mà họ thích, nghe những bản nhạc mà họ mê, sẽ biết tâm hồn của họ đã đạt đến độ điềm đạm hay chưa.
 
Ngược lại, nếu ta tiếp xúc nhiều với những người điềm đạm, nghe những bản nhạc điềm đạm, thưởng lãm những bức tranh điềm đạm, đọc những tác phẩm điềm đạm, thì ta cũng sẽ trở nên điềm đạm lúc nào không hay.

Có lẽ vì vậy mà Khổng Minh đã không để mắt đến những mỹ nhân đương thời mà lại chọn cho mình một người vợ điềm đạm tuy kém phần nhan sắc. Chuyện kể rằng, trong lần đầu Gia Cát Lượng đến cầu hôn Hoàng Nguyệt Anh, nàng đã tặng ông một chiếc quạt lông và hỏi: "Gia Cát tiên sinh có biết tại sao tôi tặng ngài chiếc quạt này không?" Gia Cát Lượng nói: “Là lễ nhẹ mà nghĩa tình thì nặng phải chăng?” Hoàng Nguyệt Anh trả lời: “Còn ý nghĩa thứ hai?” Gia Cát Lượng không trả lời, Nguyệt Anh nói tiếp: “Gia Cát tiên sinh, tiên sinh vừa cùng gia phụ đàm luận thiên hạ đại sự, tâm mang đại kế, khí vũ hiên ngang, say mê hứng thú. Nhưng mà, tôi phát hiện khi ngài nói tới Tào Tháo, Tôn Quyền thì chân mày hiện rõ vẻ ưu tư. Tôi tặng ngài chiếc quạt này là để ngài che mặt lúc đó”. Chiếc quạt ấy sau này đã trở thành vật bất ly thân của Gia Cát Lượng, cùng ông bày binh bố trận, lập bao chiến công hiển hách, mà tay không lúc nào rời. Thật là may mắn cho cả hai khi đã gặp được nhau, vì chỉ có họ mới thấy được giá trị của nhau. 
 
Nguyễn Duy Cần đã chỉ ta những cách để điêu luyện đức tính quý báu này trong quyển Cái dũng của Thánh Nhân, tôi xin không mạn đàm về điều này, chỉ xin nhấn mạnh vai trò của nó như trên mong các bạn sớm tìm đọc để hàm dưỡng tâm hồn. Khi ta chưa sáng ra điều này mà dốc tâm luyện đức thì chẳng khác nào người mù đi trong đêm tối; khi ta chưa ngộ ra điều này mà phán xét người khác thì chẳng khác nào thầy bói xem voi. 

Trong bài Nguyên lý Âm-Dương tôi có kể ba câu chuyện khôi hài giúp cho bạn giữ được sự điềm nhiên khi thình lình gặp những việc may mắn cũng không mừng, vô cố bị những điều xui xẻo cũng không lo, ấy là đã giữ được sự điềm đạm.

Nếu bạn đã ngộ ra điều này rồi, hãy cùng tôi chiêm nghiệm xem nhân vật nào trong câu chuyện u-mặc thượng thừa này chưa thực sự là một người điềm đạm?

Đời thượng cổ có ông Hứa Do là một ẩn sĩ ở trong đầm Thái Trạch.      
Vua Nghiêu nghe tiếng là người giỏi, mời ra xin nhường cả thiên hạ.
Hứa Do từ chối, lui về ẩn tại núi Trung Nhạc, phía Nam sông Dĩnh Thúy.      
Sau, vua Nghiêu lại tìm đến, cố mời Hứa Do làm tổng quản cả chín châu.
Hứa Do không muốn nghe chuyện nữa, bỏ ra bờ sông Dĩnh Thúy rửa tai. Ngay lúc bấy giờ Sào Phủ đang dắt trâu xuống bờ sông gặp Hứa Do đang rửa tai,hỏi: 
- Vì việc gì mà anh phải rửa tai?      
- Vua Nghiêu mời ra cầm quyền thiên hạ, ta không muốn bẩn tai ta.      
Sào Phủ nghe nói, liền dắt trâu lên quãng sông trên cho trâu uống.      
Hứa Do hỏi. Sào Phủ nói:      
- Ta sợ trâu ta uống phải nước bẩn của tai anh!      
Nhưng rồi lại cười bảo:      
- Anh đã làm gì đến đỗi vua Nghiêu biết anh là người hiền trong thiên hạ để đoán anh ra làm vua?

Gia Nam